\"\"Từ lâu, những lọ nước hoa nhỏ nhỏ xinh xinh đã trở nên quen thuộc với thế giới hiện đại. Nhưng có mấy ai trong chúng ta biết được nguồn gốc, xuất xứ của nó. Hãy cùng với blog Nuochoashop sử dụng cỗ máy thời gian ngược dòng lịch sử để vén bức màn bí ẩn, trả lời cho câu hỏi nước hoa có từ bao giờ, tìm hiểu xem nước hoa thuở ban đầu có khác gì so với nước hoa ngày nay và khám phá vô số những điều thú vị xung quanh thời điểm đầu tiên xuất hiện ấy!
 

Từ Perfume – nước hoa xuất phát từ tiếng Latin, nghĩa là “thông qua khói”, (“per” là “xuyên suốt, thông qua” và “fumus” nghĩa là “khói”). Người Pháp sau đó đã đưa ra tên “parfum” nhằm chỉ mùi hương dễ chịu lan tỏa trong không khí từ việc đốt hương liệu. Lịch sử của nước hoa thường đi cùng với lịch sử của nhân loại.

Hình thức đầu tiên của nước hoa chính là hương thơm. Mùi hương lần đầu được phát hiện bởi Mesopotaminas vào khoảng 4000 năm trước. Thời kì xa xưa, trong các nghi lễ tôn giáo người cổ đại đã đốt những loại nhựa cây, gỗ. Họ thường ngâm những loại gỗ thơm và nhựa cây trong nước và dầu, sau đó bôi dung dịch này lên cơ thể. Họ cũng sử dụng các mùi hương để ướp xác người chết.
Những chữ tượng hình trên các ngôi mộ cổ cho thấy nước hoa đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống của người Ai Cập. Hương liệu xuất hiện từ khoảng 3000 năm trước công nguyên và đến thời của nữ hoàng Hashepsut thì nó trở nên phổ biến. Nữ hoàng là người đi đầu trong công cuộc tìm kiếm hương liệu và những giá trị sử dụng khác của hương liệu. Kết quả của công cuộc khám phá này đã
\"\"được ghi lại trên những đền thờ và mang lại danh tiếng cho nữ hoàng. Trong đền thờ có một vườn thực vật với đầy đủ các cây hương liệu được thu hồi từ các cuộc thám hiểm. Nước hoa được tìm thấy trong các Kim Tự Tháp của Pharaon Ai Cập. Có thể việc sử dụng nước hoa dưới dạng dầu thơm trong các nghi lễ thần bí có trước việc đốt cháy những trầm hương và thảo mộc trong các nghi lễ tôn giáo.

Thời xa xưa, nước hoa chỉ dành cho thần thánh hay các Pharaon trong nghi lễ. Sau Công nguyên, nước hoa được ưa thích rất nhiều và được đề cập  thường xuyên trong Kinh Thánh. Trong kinh Tân ước, có câu chuyện kể về ba vị Vua đã mang quà tặng gồm vàng, nhũ hương và mộc dược đến Chúa Hài đồng. (Vàng tượng trưng cho sự giàu có, mộc dược tượng trưng cho sức khỏe và nhũ hương tượng trưng cho sự cao sang, quyền quý…) Trước đó, Moses – một trong 3 vị vua đã được Chúa Thánh Thần soi sáng để  “đem những hương vị ngọt ngào cùng với những hương thơm tinh khiết tạo ra nhũ hương” (nước hoa). Trầm hương có thể được biết đến nhiều trong những loại cây được ám chỉ trong Kinh Thánh. Việc đốt trầm hương là đặc quyền của linh mục ở thời kì văn minh sơ khai. Nghi thức này vẫn được duy trì cho đến ngày nay trong Công giáo và những nhà thờ ở Episcopal.

Khi các linh mục dần dần từ bỏ độc quyền của họ đồng thời phổ biến ra ngoài thì trầm hương, hợp chất thơm và dầu thơm mới trở nên thông dụng với cư dân Ai Cập. Cư dân được lệnh phải xức nước hoa ít nhất một lần một tuần. Cư dân Ai Cập vốn là những người khó tính trong các thói quen cá nhân, đã cho xây dựng những phòng tắm xa hoa  (mà tiền thân là những cơ sở tắm sang trọng của người Hi Lạp và La Mã). Họ ngâm làn da của mình trong các loại dầu thơm bởi vì nó làm cho họ thư giãn và giúp bảo vệ cơ thể khỏi những chất bẩn và tác động của ánh nắng. Người Ai Cập đã tạo ra nhiều loại kem và hoạt chất làm dịu da. Họ tạo thành chúng dưới dạng bột rồi nấu chảy, xoa khắp tóc và cơ thể. Từ đó, việc tắm rửa cũng trở nên thú vị hơn, tạo hứng thú và làm cho mọi người muốn tắm nhiều hơn trong một ngày.

Người Ai Cập mang theo mùi hương của nước hoa từ lúc họ sinh ra cho đến sau khi họ chết đi. Nhiều người Ai Cập đặt nước hoa cạnh mộ của họ với niềm tin rằng sẽ giữ cho làn da của họ được mịn màng và thơm tho khi sang thế giới bên kia. Kể từ khi người Ai Cập tin rằng các linh hồn ở trên cao, một mối liên hệ đã được nhìn thấy là mùi hương thường đi kèm với tinh thần của người chết. Những cái lư nạm vàng, bình gốm tinh xảo chứa đầy dầu thơm được đặt trong ngôi mộ. Vì vậy, những bậc quyền thế thường sử dụng
\"\"dầu thơm để làm tăng sự sang trọng, quyền quý.Khoảng 3300 năm sau cái chết của Tutankhamun, vết tích của mùi hương trong các lọ dầu bịt kín đã được tìm thấy khi những Kim Tự Tháp này được khai quật. Dầu thơm được sử dụng trong suốt quá trình ướp xác và phải mất 40 – 70 ngày mới hoàn thành xong. Ngoài ra, một số loại bột nhựa thơm, quế và các dầu thơm khác cũng được sử dụng trong quá trình ướp xác. Đây là thời kì phát triển thịnh vượng của công nghệ dầu thơm. Các cửa hàng dầu thơm mọc lên như nấm và là nơi lui tới thường xuyên cho hầu hết mọi người. Tắm hàng ngày với dầu thơm và tinh chất là một hoạt động không thể thiếu với cư dân Hi Lạp. Các loại kem bôi khác cũng được sử dụng đồng thời, với mùi hương khác nhau để bôi lên những bộ phận khác của cơ thể. Người Hi Lạp được cho là người đầu tiên tạo nên nước hoa lỏng – mặc dù nó tương đối khác biệt so với nước hoa mà chúng ta thấy ngày nay. Nước hoa của họ là những loại bột thơm được trộn chung với dầu nặng, không có cồn. Chất lỏng này được cất giữ trong những lọ thon dài  làm bằng thạch cao và vàng, gọi là “alabastrums”.

Cư dân Ai Cập tự hào về những lọ đựng nước hoa tuyệt đẹp mà họ làm được. Những lọ này được làm từ thạch cao tuyết hoa, thủy tinh, gỗ mun và sứ. Khi thủy tinh lần đầu tiên xuất hiện ở Ai cập khoảng năm 1558, nó đã được coi là quý hơn cả châu báu.

Điều kiện khí hậu thuận lợi cho phép Ai Cập nhập rất nhiều nguyên liệu và chất thơm từ Ấn Độ, như: gừng, tiêu và gỗ Đàn hương nên Ai Cập giữ một vị trí quan trọng trong việc sản xuất tinh chất nước hoa, cũng như chịu trách nhiệm một phần trong việc sản xuất tinh dầu hoa nhài của thế giới. Người Hi Lạp và La Mã cổ đại đã học được về nước hoa từ người Ai Cập. Thương mại giữa đảo Crete (một hòn đảo nàm phía Tây Nam Hi Lạp) và Ai Cập rất tốt đẹp – đó là một mối quan hệ cộng sinh. Giống như Ai Cập, loài hoa được đánh giá cao ở đảo Crete là hoa ly. Hoa hồng cũng rất phổ biến. Họ sử dụng rất nhiều những mùi hương từ thực vật: dầu Ô liu, dầu hạnh nhân và thêm vào các loại tinh dầu chiết xuất từ hoa ly, hoa hồng, anise và cây Đăng ten. Mặc dù trước đó ở thế kỉ thứ 6 một lệnh được ban hành ở đảo Crete cấm sử dụng nước hoa, nhưng đàn ông và phụ nữ vẫn thích sử dụng chúng trước và sau khi tắm lên tất cả những phần của cơ thể.

Phòng tắm công cộng ở La Mã phát triển rất ngoạn mục nhanh chóng. Nổi tiếng nhất là nhà tắm của hoàng đế Caracalla. Đó là một phòng được gọi là “unctuarium”, có những kệ gồm những hộp kem bôi, lọ dầu thơm và hương liệu với những kích thướt khác nhau. Người La Mã rất đam mê mùi hương và họ xức nước hoa ba lần một ngày. Những con vật cưng như chó và ngựa cũng được xức nước hoa. Tại những buổi lễ tiệc, chim được phóng thích ra khỏi lồng rải nước hoa từ cánh của chúng. Nhưng tấm màn rủ, cột nến, bàn và thảm đều được ướp nước hoa. Những người hầu cũng được bôi xạ hương, kinh giới, cam tùng và những chất thơm khác.

\"\"Khi Alexander Đại Đế xâm lược Ai Cập vào thế kỉ thứ 3 TCN. Ông đã chịu ảnh hưởng văn hóa sử dụng nước hoa của người Ai Cập. Chính vì vậy, ông đã đem nước hoa và hương liệu phổ biến cho người dân Hi Lạp – xứ sở quê hương của ông. Nước hoa từ đó trở nên thông dụng với người Hi Lạp. Người đứng đầu của thành Athens (thuộc Hi Lạp) đã thảo luận về những mùi hương, các loại dầu thiết yếu, nguồn gốc thực vật của chúng và thậm chí là về sự tác động của của mùi hương đến tâm trạng và quá trình tư duy của chúng ta. Ông ấy cũng nghiên cứu làm cách nào để chúng ta ngửi được hương thơm và ghi chép lại mối liên hệ nhận thức của mùi thơm và hương vị.
Có lẽ vị vua nổi tiếng nhất trong lịch sử của Ai Cập chính là Nữ hoàng Cleopatra. Bà hiểu rất rõ về sức mạnh của mùi hương và rất xa hoa trong việc sử dụng dầu thơm. Sau khi Julius Caesar bị ám sát, bà đã rời khỏi Roma để trở thành nữ hoàng Ai Cập. Ở đó, bà ta chào đón Mark Antony – một chính trị gia từ La Mã trên một chiếc tàu với những cánh buồm lan tỏa mùi hương. Antony bị mê hoặc bởi sự quyến rũ của Cleopatra và đã yêu bà. Khi Antony nghe một báo cáo sai sự thật rằng Cleopatra đã chết, ông ta đã tự sát. Tương tự như vậy, khi cái chết của Antony đến tai của Cleopatra, bà ta cũng tự tử bằng cách để một con rắn độc cắn mình.

Nefertiti – một huyền thoại về vẻ đẹp Ai Cập trong triều đại trước cũng ướp quanh mình mùi hương của nước hoa: những lọ chứa nhựa thơm, hộp chứa đầy tinh dầu ngọt và những hộp kem bôi được trang trí thủ công một cách tinh xảo.

\"\"Cây tuyết tùng của Lebanon rất nổi tiếng trong thời kì này. Vua Solomon đã sử dụng cây tuyết tùng trong việc xây dựng đền thờ, dầu của cây tuyết tùng được sử dụng để bôi lên giấy Papyrus giúp bảo vệ chúng khỏi những tác động của thời gian trong thời kì của hoàng đế La Mã Augustus. Và ngày hôm nay, tinh dầu tuyết tùng được xịt trog tủ quần áo để giữ hương lâu hơn.

Những chất thơm từ Trung Quốc được mua bởi những người châu Âu có khả năng mua chúng. Sở hữu những loại dầu thơm được cho là bằng chứng của sự giàu có, người nào có số lượng lớn dầu và chất thơm thì được tôn trọng hơn.

Sự kết nối giữa quá khứ và hiện tại trong ngành công nghiệp nước hoa là nhờ công lao của người Ả Rập. Quy trình sản xuất nước hoa chủ yếu qua chưng cất (là hình thức phổ biến được sử dụng ngày nay), đã được phát triển bởi Avicenma – một bác sĩ cũng là một nhà hóa học. Ông ấy là người đầu tiên thử nghiệm với hoa hồng. Từ thí nghiệm của ông ta, công thức của  nước hoa hiện đại là sự trộn lẫn giữa tinh dầu và các loại thảo mộc hoặc cánh hoa nghiền nát tạo nên một sự pha trộn mạnh mẽ. Từ đó, nước hoa hồng trở nên tinh tế hơn và ngay lập tức được phổ biến.

Trong suốt thời kì Catherine de Medici ở Pháp, nước hoa rất thông dụng. Catherine đã tạo ra một thương hiệu nước hoa của riêng bà ấy, có tên là Rene le Florentin. Phòng thí nghiệm của Avicenma được kết nối với căn hộ của bà ta bằng một lối đi bí mật, vì thế không có một công thức nước hoa nào bị đánh cắp.

Theo perfumes